Mô hình nuôi cá trắm giòn ở Việt Nam

Đăng bởi Nguyễn Thu Thùy | 18/04/2017 | 0 bình luận

       Cá trắm giòn có giá trị dinh dưỡng cao, thịt rắn chắc, không bở, nát sau khi nấu nướng, thịt cá không tanh, thơm ngon, có độ giòn sừn sựt hấp dẫn mà cá trắm cỏ bình thường không có được.

         Hiện nay, giá bán cá trắm giòn trên thị trường dao động từ 120.000 - 160.000 đồng/kg, gấp 2  đến 3 lần so với trắm cỏ.

         Với giá trị kinh tế mang lại cao, thị trường ổn định, nên nhiều hộ đã chuyển sang nuôi cá trắm giòn, bước đầu đã có những thành công nhất định.

         Ở Việt Nam mô hình nuôi cá trắm giòn được đang được nuôi ở các tỉnh trong cả nước với hai mô hình cơ bản sau: nuôi bằng lồng trên sông và nuôi trong ao.

1. Chuẩn bị ao, lồng nuôi

Ao và lồng nuôi nên bố trí, thiết kế ở những nơi có nguồn nước trong sạch, không có nguồn nước thải công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt chảy vào.

      Điều kiện ao nuôi

Ao nuôi cá trắm giòn có diện tích từ 2.000 - 5.000 m2. Đáy ao được cải tạo, san phẳng tạo độ dốc về cống thoát nước. Bờ ao chắc chắn, tránh bị thẩm lậu. Độ sâu của ao lớn hơn 2 m, độ sâu của mực nước nuôi duy trì từ 1,5 - 2 m. Có hệ thống giao thông và điện lưới thuận tiện có nguồn nước sạch ra vào ao nuôi. Nuôi cá trắm giòn trong ao yêu cầu có thiết bị tạo dòng chảy, máy sục ôxy hoặc bố trí quạt nước. Đây là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cá.

Trước khi đưa cá trắm giòn vào nuôi cần tháo cạn nước, nạo vét bùn (độ dày bùn khoảng 10 - 15 cm), phát quang bờ, san lấp các hang hố. Sau đó dùng vôi để cải tạo đáy ao và diệt tạp, liều lượng dùng từ 7 - 10 kg/100 m2, phơi nắng 3 - 5 ngày. Ao sau khi cải tạo, cấp đủ lượng nước trong ao từ 1,5 - 1,8 m, nước cấp vào ao phải đảm bảo trong sạch, không bị ô nhiễm, vẩn đục.

       Cấu trúc lồng nuôi cá

Lồng để nuôi cá trắm giòn là những loại lồng Chắc chắn được làm từ gỗ tốt hoặc ống thép tráng kẽm, nhiều nơi lồng được làm lưới thép, vật liệu composite.

Lồng được đóng theo dạng khối hộp chữ nhật gồm khung lồng, mặt lồng, hông lồng, đầu lồng, đáy lồng, phần nổi và neo lồng. Phần nổi có thể làm bằng thùng phi, thùng gỗ, hộp sắt, thùng nhựa, ống PVC...

Tùy nhu cầu thị trường và điều kiện tài chính mà quy mô đầu tư lồng nuôi có kích thước khác nhau. Lồng nuôi cỡ nhỏ thường có thể tích < 100 m3, chiều dài 6 - 8 m, chiều rộng 3 - 5 m, chiều cao 2,5 - 3 m. Lồng nhỏ thường được nuôi ở những vùng có độ sâu khoảng 2 m. Với những nơi có độ sâu 2,5 - 3 m có thể thiết kế lồng nuôi có kích thước trung bình, thể tích 100 - 500 m3, chiều dài 9 - 12 m, chiều rộng 4 - 9 m, chiều cao 3 - 5 m. Nếu điều kiện đầu tư lớn có thể thiết kế những lồng nuôi lớn, thể tích 500 - 1.600 m3, có chiều dài 12 - 30 m, chiều rộng 9 - 12 m, chiều cao 4 - 4,5 m. Để nuôi được những lồng cá có diện tích lớn thì phải chọn những nơi có độ sâu 3,5 - 4 m.

Lồng được đặt nổi và neo cố định tại một vị trí thuận lợi trên sông (gần bờ dọc theo dòng nước chảy), có dòng nước chảy liên tục, mực nước sông tương đối điều hoà và phải cao hơn chiều cao ngập nước của lồng từ 0,3 - 0,5 m.

Nước sông nơi đặt lồng luôn lưu thông sạch, không bị ảnh hưởng trực tiếp của nguồn nước phèn, không ô nhiễm, xa các cống nước thải, khu công nghiệp, nông nghiệp.

 

2. Chọn và thả giống

       Phương pháp và mật độ thả

Trước khi tiến hành các thao tác như vận chuyển đến ao, lồng nuôi mới, cần tiến hành ép cá bằng phương pháp cho cá nhịn ăn khoảng 1 ngày. Chuyển cá vào lúc trời mát, sáng sớm hoặc chiều tối.

Cá trắm giòn có thể nuôi được 1 - 2 vụ/năm, thời gian 3 - 6 tháng/vụ. Cá được chọn nuôi là cá trắm cỏ có kích thước lớn từ 1.2kg3kg( kích thước tùy thuộc vào yêu cầu thị trường). Mật độ nuôi trong ao 0,5 - 1 con/m2, mật độ nuôi lồng 5 - 7 con/m3, tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc, trọng lượng cá bắt đầu đưa vào nuôi tạo độ giòn.

       Chất lượng giống

Lựa chọn cá trắm cỏ đưa vào nuôi tạo độ giòn có ngoại hình cân đối, không bị dị hình, vây vẩy hoàn chỉnh, không xây xát, không mất nhớt, size cỡ cá đồng đều. Trạng thái hoạt động linh hoạt, bơi lội nhanh nhẹn, bơi chìm trong nước theo đàn, không có dấu hiệu bệnh.

3. Quản lý và chăm sóc

      Chăm sóc cá

Loại thức ăn: hoàn toàn sử dụng hạt đậu tằm( đậu răng ngựa, kê tầu) có nguồn gốc ở trong nước, hoặc nhập ở nước ngoài như trung quốc, Nga làm thức ăn cho cá. Trước khi cho cá ăn, ngâm đậu trong nước từ 12 đến 24 tiếng cho hạt đậu trương nở và mền, để phòng bệnh cho cá rửa sạch đậu bằng muối ăn 1% (100 lít nước pha 1 kg muối ăn).

      Biện pháp cho cá ăn

Trong thời gian đầu bỏ đói cá từ 3 đến 5 ngày rồi tiến hành cho ăn đậu tằm, sau khi cá ăn đậu tằm khoảng 3 tiếng kiểm tra xem cá có ăn hết hay không để điều chỉnh lượng thức ăn sao cho phù hợp. Lưu ý khi cho ăn, đậu có xu hướng chìm vì vậy cần cho cá ăn ít một, lượng đậu tằm cho cá ăn tùy vào nhu cầu ăn của cá hàng ngày. Lượng thức ăn hàng ngày của cá khoảng 2 - 3% trọng lượng đàn cá nuôi.

Cho cá ăn 2 lần/ngày, thức ăn cho vào máng đặt ở đáy ao, lồng nuôi (máng làm bằng khung sắt có đường kính 6 cm, diện tích máng 4 - 5 m2, chiều cao máng 25 - 30 cm. Xung quanh máng được vây 2 lớp, 1 lớp lưới thép, 1 lớp lưới cước để ngăn đậu trôi ra ngoài). Trong quá trình sử dụng máng cần định kỳ vệ sinh máng ít nhất 2 lần/tháng để đảm bảo phòng bệnh cho cá nuôi được tốt hơn.

        Quản lý môi trường ao nuôi

Duy trì mực nước, kiểm tra chất lượng nước trong ao nuôi, khi không đảm bảo cần bổ sung nguồn nước mới đầy đủ ôxy( dùng máy sục khí) và hạn chế các chất độc hại. Bật máy quạt nước hoặc dùng máy bơm bơm nước vào những ngày thời tiết âm u để phòng cá nổi đầu, đặc biệt là khi nửa đêm hoặc gần sáng.

Theo dõi thường xuyên để có biện pháp xử lý kịp thời những hư hỏng tại các vị trí như bờ ao, cống, mương. Cá càng ăn nhiều đậu tằm thì thịt cá nhanh giòn, do vậy tạo điều kiện cho cá bơi lội, tiêu hóa thức ăn ta duy trì dòng nước chảy trong ao sau khi cho cá ăn được 1 - 2 giờ. Luôn giữ mực nước trong ao > 1,5 m nước, thay nước định kỳ đảm bảo môi trường trong sạch. Trong quá trình nuôi, định kỳ 20 - 30 ngày bón vôi 1 lần để xử lý môi trường, liều lượng 2 kg/100 m3 nước.

        Quản lý lồng nuôi

Cần thường xuyên kiểm tra theo dõi, quản lồng nuôi. Phát hiện sớm những hư hỏng và khắc phục hoặc thay thế mới.

Định kỳ vệ sinh lồng để loại bỏ các sinh vật bám, lắng đọng phù sa, bịt kín lưới lồng, làm giảm lưu thông nước trong lồng nuôi và ngoài môi trường nuôi. Cá có thể bị sốc do thiếu ôxy hòa tan và tích lũy các chất cặn bã, ảnh hưởng đến tính ăn và sinh trưởng của cá.

4. Kiểm soát dịch bệnh

Thực hiện phương châm "phòng ngừa, ngăn ngừa là quan trọng hơn điều trị" Về nguyên tắc, có thể dùng vôi bột rắc hàng tháng định kỳ, chlorine dioxide khử trùng; Định kỳ 1 tháng/lần bổ sung thêm Tiên Đắc trộn vào thức ăn cho cá với liều lượng 100 g thuốc/500 kg cá/ngày, cho ăn liên tục 3 ngày hoặc sử dụng tỏi xay nhuyễn với lượng 3 - 5g/kg thức ăn. Ngoài ra có thể dùng Vitamin C, vitamin tổng hợp với liều lượng 30 mg/kg thức ăn.

Kiểm tra cá trong ao, lồng nếu thịt cá đạt độ giòn nhất định thì tiến hành thu hoạch. Trước khi thu hoạch 1 ngày cho cá nhịn ăn.

5. Giám sát chất lượng

Trong quá trình nuôi trồng, thực tuân theo Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt Việt Nam .

Khi cá đạt size thương phẩm cần tiến hành kiểm tra, lấy mẫu phân tích đánh giá độ dai, độ rắn chắc của thị cá, chất lượng giòn và các hàm lượng dinh dưỡng có trong thịt cá.

Trước khi thu hoạch 1 ngày, cần cho cá nhịn ăn để cá khỏe trong suốt quá trình vận chuyển ra thị trường tiêu thụ.

 

6. Ưu nhược điểm khi nuôi cá trắm giòn nói chung và các loại cá khác nói riêng bằng lồng trên sông và nuôi trong ao.

        Đối với mô hình nuôi cá lồng trên sông:

- Thời gian thu hoạch nhanh hơn, mật độ nuôi thả nhiều hơn, cho sản lượng và hiệu quả kinh tế cao hơn so với nuôi trong ao.

- Nhưng chất thải từ thức ăn cho cá dư thừa, từ phân cá và các hoạt động khác trong quá trình nuôi trực tiếp xả xuống nước sông gây ô nhiễm môi trường nước.

- Nguy cơ cá chết hàng loạt do môi trường nước sông ô nhiễm, mất trắng do lũ lụt, thiên tai.

- Nuôi tự phát ồ ạt không theo quy hoạch dẫn đến ô nhiễm môi trường, tạo tình trạng cung vượt quá cầu làm mất giá sản phẩm.

Cần bám sát, tuân thủ theo quy hoạch của ngành và địa phương để có quyết định đầu tư hợp lý.

        Đối với mô hình nuôi cá trong ao

- Thời gian thu hoạch lâu hơn, mật độ nuôi ít hơn, phát triển kích thước cân nặng không bằng mô hình nuôi cá bằng lồng trên sông.

- Chủ động kiểm soát, xử lý chất lượng nước vào ao nuôi và nguồn thải ra môi trường.

- Giảm thiểu, khoanh vùng xử lý khi có bênh, dịch cho cá.

 

Bình luận của bạn